MADISON MORRISON — nhà văn, nhà giáo, nhà lý thuyết văn học, nhà tư tưởng — sinh năm 1940 ở Alabama nhưng sống ở New York, Chicago, Detroit, Pittsburg, và Taiwan. Ông tốt nghiệp ở viện đại học Yale, có bằng Ph.D. về triết tại Havard, là giảng sư đại học hơn 40 năm ở Mỹ và các nước khác. Ông có cơ hội viếng thăm và giảng dạy khắp nơi trên thế giới. Từ Rome ở Ý cho đến Ấn Độ, Thái Lan và các quốc gia Á Châu. Cho tới bây giờ ông đã có 26 tác phẩm viết về thơ ca, văn học nghệ thuật, tiểu luận và phê bình.
Gần đây ông có ghé Việt Nam và cuốn A visit to Việt Nam ra đời. Tôi xin dịch lại và giới thiệu đến bạn đọc một số bài viết trong cuốn sách này. Đây là những đoạn văn viết theo thể thức hậu hiện đại, lối trình bày mới, tạo cảm giác lạ, làm rối trí người đọc khiến họ phải tập trung nhiều hơn, gây nên sự tương tác cần thiết giữa độc giả và tác giả.
Bên này, chủ nghĩa tượng trưng là cách diễn đạt của một tác phẩm, và dường như có vài sự bất xứng với khuynh hướng chặt chẽ của chủ nghĩa hiện đại. Nó từ khước những ngữ nghĩa mị kinh nghiệm hoặc sự hiện hữu của một tác phẩm.
Bên kia, thì chủ nghĩa tượng trưng gánh vác sự chia sẻ những lối viết phối hợp khác nhau của truyền thông, đặc biệt đối với hội hoạ và điêu khắc. Nó nhấn mạnh trên sự phân rời và tách biệt của hai trung gian.
Nơi góc nhỏ hơn phía trong một nhà hàng có hai người đàn ông ngồi nghỉ, chân tựa vào một chiếc ghế dựa. Đối diện là bốn người khác đang cụng ly. Trong khi đó một cuộc đua không đèn lưu thông tiếp tục diễn ra. Hai cô gái tóc dài trên một chiếc đạp chạy vượt đèn dành riêng cho người đi bộ, cùng lúc ấy một chiếc Taxi đỏ cũng băng ngang theo đuôi chiếc xe đạp. Không khí bên trong nhà hàng mát mẻ dễ chịu bao nhiêu thì ngoài đường nóng và bụi bặm bấy nhiêu. Bò lúc lắc được đem tới.
Một chiếc xe ba bánh chở đầy mía, những khúc dài quá khổ bị nẩy tưng lên trong khi một chiếc xe hơi màu trắng đuổi theo rồi quẹo trái. Một phụ nữ mặc áo hoa màu cam, đội nón vải, lái Honda vượt qua tấm bảng đề "Pepsi café 302". Bốn người tiếp viên tuổi độ hai mươi xúm lại hỏi han. Thay vì trả lời, tác giả bảo người đã giới thiệu món bò lúc lắc ghi tên món ngon miệng này xuống sổ tay giùm ông.
Một trong hai người đàn ông được tả bên trên có lẽ bị lôi cuốn bởi bầu không khí sống động nên đứng lên rời ghế, đến ngồi gần tác giả và viết xuống cuốn sổ tay một lời chào đón người khách đến Việt Nam. Rồi người ấy múa bút ký tên mình.
Đối với những nhà nghiên cứu về tượng trưng học truyền thống thì chủ nghĩa tượng trưng là một thực nghiệm của phép ẩn dụ liên kết: “Một con tàu của trạng thái” nghĩa là, tự nó là ẩn dụ. Tuy nhiên nếu chúng ta tiếp tục dùng phép ẩn dụ trên toàn mặt phẳng của một khung bố hay xuyên suốt chiều dài một bài thơ thì bão tố, sóng cồn, đất bằng, con người, sự chìm đắm của con tàu, sự bảo an cho tới bến, tất cả đều góp phần làm nên định mệnh của một trạng thái. Chúng ta sẽ có trong tay một chủ nghĩa tượng trưng – một chủ nghĩa tượng trưng có tính hội hoạ hay thi vị ở khắp mọi nơi hơn là bề mặt đầy tính văn chương của nó.
Những nhà hậu hiện đại học ra đời để tìm hiểu một nghĩa khác của chủ nghĩa tượng trưng. Cái nghĩa chính trong một cái nhìn khác của cách làm thế nào cho những tác phẩm đầy ý vị. Một người có thể thấy được điều này nhờ sự tưởng tượng ra chủ nghĩa tượng trưng bị lôi cuốn không bởi phép ẩn dụ mà bởi một loại ngôn ngữ giễu cợt liên tục, mỗi ngôn từ hoặc hình ảnh tự nó mở chốt cho một ngòi nổ. Loại chủ nghĩa tượng trưng như vậy có một hiệu quả đầy ý nghĩa trong việc liên kết giữa ngôn ngữ và hình ảnh hay tách rời nó khỏi nguyên lý của ngữ nghĩa.
Các tác phẩm hội họa được chúng ta mô tả hoà hợp với những bức tranh thuộc về trung tâm đẩy chúng ta ngược về những yếu tố định nghĩa của chủ nghĩa hiện đại: Những tác phẩm này đã không đi quá giới hạn của nó. Thay vì tiết lộ nó là gì, nó từ khước nạp mình cho một ngữ nghĩa đã hiện hữu từ trước như chúng ta có thể nói tranh của Poussin đã làm như vậy. Điều này có lẽ đủ cho một người có thể xác nhận rằng chủ nghĩa hậu hiện đại có liên hệ tới quá khứ và từng có vài dấu răng lịch sử.
Sau cơn mưa áo vườn xanh vết ngọc
Bóng hắt lung liêng rộn tấu khúc ve sầu
Nơi ban công rộng lớn của khách sạn Hùng Vương. Đó là mùa hè vào thế kỷ thứ 13 cho tới đời vua Trần Thánh Tôn. Nhà riêng nhiều hơn khách sạn. Đối với các em học sinh. Ngôi biệt thự tân kỳ nằm trong con hẻm nhỏ nối ra đường Lê văn Sỹ. Đầu mùa phượng rực. Tác giả ngồi trên một cái ghế gỗ nhỏ. Cùng những bài ca ve sầu. Cửa để bỏ ngỏ. Là mối lo thi cử và nỗi háo hức được nghỉ hè rong chơi. Khoảnh sân dễ thương này được trang hoàng đầy những lẵng hoa. Lũ trẻ rất thích ve sầu. Và những cây kiểng trồng trong chậu lớn. Chúng cầm những cái que dài một đầu bọc kẹo cao su dính. Có cái rặt theo lối tàu. Đi sục tìm ve. Có cái nhã nhặn Việt Nam hơn. Lẩn trốn trong các tàng phượng vĩ. Một cây trúc đứng che bóng ngôi nhà bốn tầng, có mái ngói cam và tấm bạt che nắng sọc trắng xanh, phía bên kia đường. Chúng nhốt các con vật bắt được vào các bao diêm. Giáp lan can là một pho tượng thiếu nữ đượm vẻ sầu thảm. Lâu lâu bọn trẻ lại đem ra ngắm đôi mắt của chúng. Hoàn toàn khoả thân. Hoặc bắt chúng ca hát. Mái tóc dài của cô che nửa thân hình. Bằng các ấn nhẹ vào mình chúng. Khuôn mặt thì chìm khuất sau đám lá của một chậu kiểng bằng men có điểm chữ Phúc.
Đối với các thi sĩ tiếng hát của những ca sĩ ve rất buồn thảm. Sân ban công được lát gạch nâu xám thành hình chữ nhật, chính giữa là một hình vuông nhỏ cũng màu nâu, mỗi góc lại thêm những hình vuông nâu nhạt nhỏ hơn. Giống tiếng thét tuyệt vọng của loài khỉ chốn rừng sâu. Những chậu cây mới được tưới nước nên nền gạch còn ẩm. Nguyễn Du (cuối thế kỷ 18) miêu tả tấu khúc của Kiều giống những bài ca ve sầu. Trên bờ tường, một con sư tử chễm chệ ngồi, đầu ngẩng cao ra dáng ngạc nhiên. Nhưng nó mang nhiều âm điệu hoài hương hơn. Ông nói "những lời than oán ấy là hợp âm của tiếng ve kêu và tiếng khỉ nhớ rừng". Mưa bắt đầu rơi xuyên mạng sương mặt trời trắng xoá. Một câu chuyện dân gian của Thái Lan có nói đến sự tích của con ve: Máy điều hoà không khí từ phòng tác giả thả vào không gian những tiếng kêu vo vo. Truyện kể một người goá phụ nghèo vào rừng đào những rễ cây ăn được đem về nuôi cô con gái duy nhất của bà. Âm thanh tiếng búa vọng vang xuống đường tạo những nhịp nhặt khoan, lúc rền lúc lặng. Một hôm vì đào nhiều quá bà kiệt sức rơi xuống hố sâu và chết. Dưới đường một chiếc xe gắn máy không bộ phận hãm thanh chạy qua. Người con gái đi tìm mẹ, thấy được xác bà và đem về chôn cất. Những giọt mưa bắt đầu nhỏ xuống cuốn sổ tay của tác giả. Cô ta khóc ngày này qua tháng khác và chết bên mồ mẹ. Tạo nên hồi kết cuộc. Sáng hôm sau cô ta thoát xác thành loài ve sầu hát bài ca ai oán.
Sài Gòn chiều chúa nhật trong quán cà phê, nhạc Mỹ đài MTV thì vặn câm, nhạc Việt phát ra từ máy CD lại được mở lớn hết cỡ. Không từ chối được hình thức này lại đem đến kết quả mỹ mãn như thế: Những cô chiêu đãi viên trang phục áo dài đen tự giới thiệu tên mình bằng tiếng Việt. Nó phản ánh một sự hài lòng, một khả năng hoàn toàn tự giác. Để đáp lại, tác giả bài viết trao họ tấm danh thiếp song ngữ có ghi tên mình bằng tiếng Anh và tiếng Hoa. Một triết lý thích hợp, một xã hội tuyệt đối hay nặng phần chính trị. Những cô gái này không nói được chữ Anh nào và cũng không đọc được chữ Tàu. Trên tất cả những gì nó nắm giữ, có lẽ là một sự giải thoát cho chính chúng ta. Nhưng họ cực kỳ xinh đẹp. Một sự tự do từ những gánh nặng (quá khứ, cộng đồng, ảo tưởng một tương lai viển vông hơn). Một cô đã chỉ cách tác giả gọi “café au lait” bằng tiếng Việt. Mà chúng ta không còn có năng lực để chuyên chở. Trong trường hợp cà phê được đem tới không có sữa, ông cần phát âm khác đi, các cô gái lại gần ông hơn để chỉnh cách phát âm. Sự tự mãn quá sức này, tuy nhiên, cũng chính là những gì mà thời hiện đại đã một lần hứa hẹn. Cuối cùng cà phê có khuấy sữa đặc của ông được đem trở lại.
Nhưng khi chúng ta tư duy về chúng. Nó được đặt trong một chén sứ có vẽ hoa hồng đổ đầy nước để giữ lạnh. Chúng ta có thể cảm thấy chính mình đang nhào lộn vào một loại hố đen. Mặt chiếc bàn nhỏ ông ngồi kiểu Pháp lồng kiếng một tấm bích chương quảng cáo hình hai người đàn ông và ba cô ca sĩ, tựa “Scandal’s Us”. Cái hố mà chủ nghĩa hậu hiện đại thình lình xuất hiện như sự tự sụp đổ của chủ nghĩa hiện đại. Người đàn ông đầu tiên mặc áo đen tóc lởm chởm đứng cạnh cô ca sĩ đang ngồi mặc áo hở ngực xanh, sọc trắng, tóc dài hơn cũng dựng ngược. Một vũ trụ đảo lộn từ trong ra ngoài. Sát đó là một cô gái mặc váy Jean bó, áo hở vai không dây, tóc dài lọn quăn, đội nón bê rê. Trong tiến trình này, chúng ta đã sắp xếp để biểu hiện con người của chính chúng ta đối với người khác như những kẻ lạ. Cô gái thứ ba trong tư thế ngồi, diện áo dạ hội đen, vai trần. Chúng ta không được trang bị gì hơn là ngôn ngữ mà tự chúng ta cũng không tin được chính mình. Trong khi “Lin” và “Nhung” ngồi hai bên tác giả, Xuân khoanh tay theo dõi hành động của ông và phàn nàn bảo ông sao không uống cà phê mà lại cứ viết. Một thứ ngôn ngữ, chúng ta không còn tưởng tượng lâu hơn như chia sẻ hoặc có thể chia sẻ được, giữa trọng tâm của chủ nghĩa hiện đại, dường như có một thứ lý thuyết hiện thực tự thân được khám phá. Tác giả càu nhàu lại.Trần nhà quán cà phê được trang trí những kim nhũ thả rũ như thạch động. Nói tóm lại. Nhung và Lin chăm chú xem những trang cuối trong cuốn sổ ghi chú của tác giả. Chúng ta có thể tìm thấy chính chúng ta trở về câu hỏi ban đầu: Nơi có hình một cặp tình nhân tí hon 4 tuổi, bé gái mặc áo đầm bông, cổ trắng tay cầm hai đóa cúc. Đây có phải là thời hậu hiện đại không? Bé trai cầm giỏ, đầu đội nón rơm cài duyên đoá cúc thứ ba có con bướm đậu. Hay tại sự thất bại của nó. Khi chúng tản bộ bên nhau bé gái liếc ngược về phía bé trai. Nếu chúng ta coi nó như sự thất bại. Trên tường chỗ quầy rượu là một bức tranh giấy hình đại bàng rất lớn. Chúng ta cần hiểu rõ cái gì là hậu hiện đại hay có thể chỉ rõ nó có nghĩa gì khi thất bại. Những chai sữa đậu nành, Fanta xanh, đỏ nằm xếp hàng. Chúng ta cũng có khả năng để nói. Nơi cửa ra vào, bóng tối không lấn lướt, một dãy ánh sáng những ngọn đèn cây Noel chập chờn, nhạt nhoà, chợt sáng, chợt tắt: Vài điều về lý do tại sao nó thất bại một cách minh bạch. Xanh đỏ, đỏ xanh, lúc xanh, lúc đỏ, khi nháy, khi dừng, hoà theo nhịp đẩy của mạch điện tử vận hành.
— Bản dịch của Trịnh Thanh Thuỷ